Pic 01
Pic 02
Pic 03
Pic 05
Pic 06
Pic 11
Pic 07
Pic 08
Pic 09
Pic 10
Pic 04
Công nghệ A2O2
Công nghệ A2O2
Công nghệ A2O2 là một quá trình gồm 4 giai đoạn với các quá trình kỵ khí/ hiếu khí/ thiếu khí/ hiếu khí nối tiếp nhau và nước thải cấp vào hệ thống bằng 2 bậc. Bậc cấp nước 1 tại đầu vào của hệ thống (tại ngăn kỵ khí), bậc cấp nước 2 tại ngăn thiếu khí.

Công nghệ A2O2 là một quá trình gồm 4 giai đoạn với các quá trình kỵ khí/ hiếu khí/ thiếu khí/ hiếu khí nối tiếp nhau và nước thải cấp vào hệ thống bằng 2 bậc. Bậc cấp nước 1 tại đầu vào của hệ thống (tại ngăn kỵ khí), bậc cấp nước 2 tại ngăn thiếu khí. Quá trình khử nitrat tại bể thiếu khí với nguồn carbon lấy từ bậc nạp nước thứ 2. Quá trình của A2O2 không tuần hoàn dòng nitrat như A2O, hệ thống chỉ có dòng tuần hoàn bùn từ ngăn lắng về ngăn kỵ khí ở đầu hệ thống.

Quá trình loại bỏ chất hữu cơ diễn ra như sau:

Loại bỏ chất hữu cơ diễn ra tại ngăn kỵ khí:

Vi sinh vật chuyển hóa chất hữu cơ trong điều kiện kỵ khí là một quá trình phức tạp, liên hệ đến hàng trăm phản ứng và chất trung gian, mỗi phản ứng sẽ được xúc tác bởi một loại enzyme hay chất xúc tác. Nói chung quá trình kỵ khí diễn ra qua các giai đoạn sau:
-         Thủy phân hay quá trình cắt ngắn mạch các chất hữu cơ cao phân tử
-         Tạo acid và hình thành các hydrogen bắt buộc
-         Sinh khí metan.
Có 4 nhóm vi khuẩn chính tham gia vào quá trình lên men kỵ khí, đó là: các vi khuẩn thủy phân và lên men chất hữu cơ, các vi khuẩn thuộc nhóm acetogenic (tạo ra acetate và hydrogen), nhóm vi khuẩn sử dụng acetate để tạo ra metan, nhóm vi khuẩn sử dụng hydrogen để tạo metan.
Loại bỏ chất hữu cơ tại ngăn hiếu khí
Chất hữu cơ có thể được xử lý hoàn toàn trong quá trình xử lý hiếu khí. Đây là quá trình yêu cầu có thời gian tiếp xúc giữa các vi sinh vật vật dị dưỡng, chất dinh dưỡng, oxy và nước thải xử lý. Trong suốt quá trình ban đầu vi sinh hấp thu chất hữu cơ, hơn phân nữa chất hữu cơ sử dụng oxy và tổng hợp tế bào mới, sử dụng oxy để hô hấp. Sinh khối thừa được tách ra bằng quá trinh lắng.
Trong ngăn hiếu khí, chuyển hóa chất hữu cơ bằng vi sinh vật được mô tả bằng 2 phương trình sau:
Oxy hóa và tổng hợp tế bào
CHONS   +  O2   +   chất dinh dưỡng → CO2  +  NH3 + C5H7O2N  + sản phẩm khác
Hô hấp nội bào
C5H7O2N  + 5O2  → 5CO2 + 2H2O  +  NH3  + năng lượng
Trong quá trình hiếu khí loại bỏ chất hữu cơ pH dao động trong khoảng 6 – 9, khoảng tối ưu là pH gần mức trung hòa. DO trong ngăn hiếu khí lớn hơn 2 mg/l

Quá trình chuyển hóa nitơ được diễn ra như sau:

Quá trình nitrate hoá xảy ra trong bể hiếu khí, là quá trình oxi hoá ammonia thành nitrite và nitrate. Vi sinh vật chính trong quá trình này là Nitrosomonas và Nitrobacter. Các vi sinh vật tự dưỡng oxi hoá các hợp chất nitơ vô cơ :
Nitrosomonas           : 2 NH4+  +  3 O2  à 2 NO2-  + 2 H2O  + 1 H+ +  Tế bào mới
Nitrobacter                : 2 NO2-   +    O2  à 2 NO3-  +  Tế bào mới
Cacbon để phát triển tế bào được lấy từ CO2 . Điều này có nghĩa là cơ chất hữu cơ (BOD) không phải là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của các vi khuẩn nitrate hoá. Sự tích lũy nitrite không diễn ra mạnh vì vi khuẩn Nitrosomonas phát triển chậm hơn vi khuẩn Nitrobacter. Tuy nhiên, có dấu hiệu chỉ ra rằng ở nước thải có nhiệt độ trên 25oC đến 30oC, sự biến đổi nitrite thành nitrate bị giới hạn về tốc độ.
Có nhiều vi sinh vật khác ngoài Nitrosomonas và Nitrobacter cũng tham gia gián tiếp vào quá trình nitrate hoá, gọi là vi khuẩn oxi hoá ammonia (AOBs) (bao gồm cả Nitrosomonas và Nitrobacter). Trong hệ thống A2O2, quá trình nitrate hoá là quá trình điều khiển vì 2 lí do: (1) AOBs ít đa dạng. Chúng chiếm khoảng 2% khối lượng sinh khối. (2) AOBs có những nhu cầu phát triển nghiêm ngặt và rất nhạy cảm với những điều kiện môi trường.
ü  Thời gian lưu bùn (SRT): Bởi vì tốc độ phát triển của vi khuẩn nitrate hoá chậm hơn vi sinh vật dị dưỡng ( vi sinh vật loại bỏ BOD), thời gian lưu bùn dài sẽ tăng hiệu quả của việc nitrat hóa và khử nitrate. Thời gian lưu bùn của quá trình nitrate hoá là một hàm trực tiếp với nhiệt độ nước thải.
ü  Nhiệt độ: Tốc độ nitrate hoá tăng khi nhiệt độ tăng đến điểm giới hạn (30oC đến 35oC) và sau đó giảm. Quy luật này là nhiệt độ thay đổi từ 20oC xuống còn 10oC thì tốc độ nitrate giảm khoảng 30%, cần gần gấp 3 lần nồng độ sinh khối MLSS để đạt được nồng độ ammonia dòng ra tương đương.
ü  Nồng độ oxy hoà tan DO: nhu cầu oxy cho nitrate hoá khoảng 4.6 mg O2/ mg N-NH4 bị oxi hoá. Khi DO giảm xuống dưới 2 mg/l trong thời gian kéo dài thì sự nitrate hoá sẽ bị kiềm chế.
ü  Độ kiềm và pH : quá trình nitrate hoá sẽ tiêu thụ 7.1 mg/l độ kiềm CaCO3 / mg N- NH4+. Nếu dòng vào không đủ độ kiềm, sự nitrate hoá sẽ bị hư tổn. Khi độ kiềm bị phân huỷ, pH sẽ giảm và điều này có thể giảm tốc độ nitrate hoá. Hầu hết các nhà máy xử lý nước thải đều vận hành ở pH từ 6.8 đến 7.4.
ü  Hợp chất ức chế: Vi khuẩn nitrate hoá sẽ bị ức chế bởi kim loại nặng và các hợp chất hữu cơ. Một vài polymer được sử dụng trong bùn cũng là chất ức chế.

Quá trình khử nitrate: xảy ra trong bể thiếu khí

Quá trình khử nitrate phải thực hiện sau quá trình nitrate hóa để đạt được hiệu quả loại bỏ nitơ trong nước thải. Khử nitrate là quá trình  biến đổi nitrate thành khí nitơ bởi các vi khuẩn dị dưỡng. Yêu cầu của quá trình này là điều kiện thiếu khí và nguồn cacbon dễ phân huỷ sinh học (RBOM). Thiếu khí có nghĩa là sự hiện diện của oxy kết hợp (nitrate và nitrite) và sự thiếu vắng oxy hoà tan hay oxy tự do. Phản ứng biểu diễn quá trình là :
            NO3-   +  RBOM  à N2 (khí)  + CO2  + H2O  + OH- + Tế bào mới.
Quá trình khử nitrate sẽ khôi phục lại khoảng 3.6 mg độ kiềm CaCO3 và 2.9 mg oxy/ mg N-NO3- giảm. Do đó sự kết hợp của quá trình nitrate hoá (hiếu khí) và quá trình khử nitrate (thiếu khí), độ kiềm sẽ được khôi phục một phần, hơn nữa, còn tăng khả năng lắng của bùn.
Tốc độ khử nitrate (g N-NO3- giảm / g MLVSS.ngày) quyết định lượng nitrate bị khử, là hàm của (1) giá trị của RBOM và (2) nhiệt độ.
ü  Giá trị của RBOM: vi khuẩn khử nitrate là các vi khuẩn dị dưỡng sử dụng chất hữu cơ để làm năng lượng và nguồn cacbon. Như ước tính ban đầu, tỉ số BOD:TKN trong dòng thải vào nhỏ nhất khoảng 3:1 cho việc khử nitrate. Tỉ số thật sự phụ thuộc vào điều kiện vận hành và cơ chất dễ phân huỷ sinh học. Trong giới hạn, tỉ số F:M cao hơn trong vùng thiếu khí có thể đạt tốc độ khử nitrate cao hơn bởi vì sự hiện diện của RBOM. Như vậy, loại cơ chất cũng tác động đến quá trình khử nitrate. Tốc độ khử nitrate có thể tăng với methanol và sản phẩm cuối của sự lên men, như acid béo bay hơi (VFAs) hiện diện trong nước thải đầu vào. Sự khử nitrate do sự phân huỷ nội bào sẽ có tốc độ chậm.
ü  Nhiệt độ: Nhiệt độ nước thải tăng hoạt tính của vi khuẩn, dẫn đến tốc độ khử nitrate cao. Đối với cùng lượng BOD, sự thay đổi nhiệt độ từ 20oC xuống 10oC sẽ giảm tốc độ khoảng 75%. (Metcaft Eddy, 2003)

Để biết thêm chi tiết vui lòng liên hệ công ty chúng tôi

Chia sẻ:

Các bài liên quan

  • Video 1
  • Video 2
hỗ trợ trực tuyến

  • Phòng dự án 091 424 7733

  • Phòng kinh doanh 0123 239 6979

  • Phòng tư vấn 08 3743 8579

  • Phòng kỹ thuật 090 373 2939
  • 090 373 2939

CÔNG TY TNHH THIẾT BỊ VÀ CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG HUY HOÀNG

22 đường 30, phường Bình Trưng Đông, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh

Email : info@huyhoangenvitech.com.vn . ©2012 Huy Hoang

Số điện thoại : 08. 3743 8579 - 090.373.2939 - Fax : 08. 3743 8578